sở hữu toàn dân

(cg. sở hữu nhà nước), sở hữu công cộng thuộc toàn thể nhân dân, do nhà nước xã hội chủ nghĩa đại diện, đối với những tư liệu sản xuất chủ yếu; ngày càng chiếm vị trí chủ đạo trong hệ thống sở hữu xã hội chủ nghĩa; các thành viên trong xã hội liên hiệp với nhau như những người cùng sở hữu các tư liệu sản xuất, nền sản xuất được xã hội hoá trên quy mô toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Những người công nhân trong các ngành kinh tế sở hữu toàn dân không còn là những người vô sản làm thuê, mà là những thành viên của một tập thể lao động và là những người có sở hữu trong SHTD. Ở Việt Nam, Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 đã xác định rõ: đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên, các xí nghiệp và công trình văn hoá, giáo dục, kĩ thuật, phúc lợi chủ yếu đều thuộc SHTD. Hình thức sở hữu nhà nước ở Việt Nam ra đời trên cơ sở quốc hữu hoá những tư liệu sản xuất chủ yếu của bọn thực dân, tư bản lớn và địa chủ lớn; nó được phát triển và nhân lên trong quá trình tái sản xuất mở rộng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước tổ chức giao cho những tổ chức quốc doanh quyền sử dụng SHTD để kinh doanh với quyền tự chủ có tư cách pháp nhân. Theo Mac, SHTD đó là sở hữu tập thể xã hội chủ nghĩa thay thế sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, nhưng không thủ tiêu, mà lại khôi phục lại sở hữu cá nhân người lao động trên cơ sở những thành tựu của chủ nghĩa tư bản hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Hiến pháp 1992 đã xác định đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần: quốc doanh (sở hữu nhà nước), tập thể, tư bản nhà nước, tư bản tư nhân, cá thể. Trong quá trình đó, hình thức SHTD (sở hữu nhà nước) liên kết với các hình thức sở hữu khác, không ngừng phát triển, tạo nên khu vực kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo.


nd. Quyền làm chủ thuộc về nhân dân do nhà nước xã hội chủ nghĩa đại diện.

Tài sản thuộc sở hữu toàn dân bao gồm: đất đai, rừng, núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của nhà nước đều thuộc sở hữu toàn dân (Điều 205 - Bộ luật dân sự). Tài sản thuộc sở hữu toàn dân có thể được giao cho doanh nghiệp nhà nước, cơ quan nhà nước đơn vị vũ trang, tổ chức chính trị - xã hội sử dụng. Ngoài ra, doanh nghiệp ngoài quốc doanh, hộ gia đình, tổ hợp tác, cá nhân cũng có thể sử dụng, khai thác trong những trường hợp được pháp luật quy định và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép (như sử dụng và khai thác đất đai, khai thác các nguồn thủy sản hoặc tài nguyên khác). Nhà nước kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng những tài sản thuộc sở hữu toàn dân.

Nguồn: Từ điển Luật học trang 438